CỨ 3 NGƯỜI CÓ 1 NGƯỜI BỊ UNG THƯ
Dr. Wong Seng Weng.
Giám Đốc Trung Tâm Ung Thư.
Chuyên Gia Tư Vấn Ung Thư.
The Cancer Centre.
Vâng, đó là con số tỉ lệ. Trung bình cứ ba người chúng ta gặp đang đi trên phố thì một người sẽ bị ung thư vào thời gian nào đó trong đời họ. Và cứ bốn người Singapore thì có một người chết vì ung thư.
Hầu hết mỗi chúng ta đều đã từng chứng kiến một người nào đó ở gần với chúng ta bị căn bệnh khủng khiếp này, có thể là người quen hoặc thậm chí là người thân trong gia đình. Mặc dù ung thư có liên quan mật thiết với cuộc sống của chúng ta nhưng vẫn còn vô số quan niện sai về bệnh này. Nhiều người lo lắng rằng mọi người đều mang các tế bào ung thư trong cơ thể và bệnh chỉ thời cơ là bùng lên.
Các tế bào ung thư có nguồn gốc từ các tế bào bình thường của cơ thể. Các tế bào của cơ thể chúng ta thường xuyên có nguy cơ tiếp xúc với các yếu tố gây tổn thương như ô nhiễm môi trường, hút thuốc, bức xạ và một số loại thức ăn nhất định. Một số người có thiên hướng dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố này do đặc điểm di truyền của họ.
Các tế bào bị tổn thương có thể mất cơ chế bình thường kiểm soát quá trình phát triển và chết của tế bào, và vì thế tế bào đó chuyển dạng thành tế bào ung thư. Cơ thể chúng ta có một cơ chế nội sinh để sửa chữa tổn thương và phá huỷ các tế bào bất thường để ức chế các tế bào có thể là tế bào ung thư phát triển. Tuy nhiên đôi khi cơ chế đề kháng này bị suy yếu.
Các tế bào ung thư có khả năng nhân lên với tốc độ báo động. Vào thời điểm một khối u có thể cảm nhận được hoặc nhìn thấy được trên phim chụp X-quang thì thường có đường kính ít nhất là 1 cm. Một khối u có kích thước 1 cm có khoảng 1 tỷ tế bào ung thư và đã trải qua khoảng 30 chu trình nhân lên. Sau khoảng 10 chu trình nhân lên nữa sẽ tạo ra khoảng một nghìn tỷ tế bào và luôn luôn gây tử vong.
Có thể phòng ngừa được ung thư không?
Những hiểu biết không đầy đủ của chúng ta về quá trình hình thành của ung thư đã ngăn cản những cố gắng của chúng ta trong việc phòng ngừa ung thư. Rất nhiều yếu tố có thể gây ung thư. Một số quá trình sinh ung thư đã được làm sáng tỏ, nhưng còn rất nhiều điều vẫn còn là bí ẩn.
Nhiều khuyến cáo về dự phòng ung thư thuộc vào những lời khuyên cẩn trọng chung. Ví dụ như tránh hút thuốc hoặc dùng quá nhiều rượu.
Sử dụng các thuốc để phòng ngừa ung thư có một số thành công đối với một số loại ung thư nhất định. Các thuốc như tamoxifen và raloxifene cho thấy có hiệu quả làm giảm nguy cơ ung thư vú. Tuy nhiên các thuốc này có thể có một số tác dụng phụ nhất định cho nên việc sử dụng chúng chỉ khư trú vào những người đã được các thầy thuốc xác định là có nguy cơ ung thư vú cao.
Các vaccine chống các virus gây ung thư là loại vũ khí mới nhất trong kho vũ khí của chúng ta. Vaccine chống virus papilloma gây bệnh ở người có vai trò lớn liên quan đến ung thư cổ tử cung gần đây đã trở thành thương phẩm với tên thương mại là GardasilÒ.
Sử dụng các chế độ ăn đặc biệt và các vi chất dinh dưỡng nhất định như các vitamin để ngăn ngừa ung thư cũng đã tạo ra được mối quan tâm của giới y khoa cũng như cộng đồng nói chung. Đáng tiếc là hầu hết các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng lại không cho thấy hiệu quả của biện pháp này. Có rất ít số liệu khoa học được kiểm chứng nghiêm ngặt hỗ trợ cho những ảo tưởng về các chế độ ăn đặc biệt giúp ngăn ngừa hoặc điều trị ung thư, biện pháp này vẫn còn là biệt pháp chưa được chứng minh.
Chúng ta đã có những tiến bộ gì trong cuộc chiến chống ung thư?
Các tiến bộ chủ yếu về hoá trị liệu ung thư đạt được trong những năm qua đã tăng được tỷ lệ khỏi bệnh cũng như thời gian sống thêm trung bình của các bệnh nhân ung thư. Trong khi các biện pháp điều trị hiệu quả hơn đã có, phương pháp điều trị bằng hoá chất thông thường vẫn còn điểm hạn chế là độc tính đáng kể của thuốc.
Vấn đề nổi lên từ cơ chế hoạt động tương đối không đặc hiệu của hầu hết các hoá chất dùng trong điều trị dẫn đến làm phá huỷ không chỉ các tế bào ung thư mà còn phá huỷ cả các tế bào bình thường của cơ thể. Vì thế các biện pháp phối hợp hoá chất điều trị hiệu lực mạnh hơn thường được áp dụng với các thuốc có tác dụng phụ nghiêm trọng hơn. Trong quá trình tìm kiếm biện pháp điều trị tốt hơn, biện pháp điều trị đặc hiệu nhắm vào các tế bào ung thư và tăng cường tính hiệu quả đồng thời giảm thiểu các tổn thương theo kiểu “vạ lây” cho các tế bào lành của cơ thể vẫn còn là mong ước của chiến lược điều trị ung thư.
Trong vài năm vừa qua, biện pháp điều trị nhắm đích đã trở thành hiện thực. Các tác nhân dùng để điều trị nhắm đích là các “thuốc thông minh” tựa như “bom thông minh” của vũ khí hiện đại. Các thuốc này có khả năng giết tế bào u tốt hơn hoặc ngăn chặn sự phát triển của khối u trong khi đó lại tác dụng một cách tối thiểu lên các tế bào lành của cơ thể, vì thế giảm thiểu được thương tổn kiểu “vạ lây”.
Trong lĩnh vực điều trị sớm ung thư vú, việc sử dụng kháng thể Herceptin cho bệnh nhân có các khối u có biểu lộ đích tấn công đã làm giảm đáng kể tỉ lệ tái phát chưa từng thấy trong vài thập kỷ. Trong điều trị u lympho xâm lấn, việc sử dụng kháng thể rituximab cho bệnh nhân có khối u biểu lộ đích tấn công đã làm tăng một cách ấn tượng tỉ lệ khỏi bệnh. Các nghiên cứu khác trong lĩnh vực này đã tạo ra một thế hệ mới hơn kháng thể đơn clôn gắn chất phóng xạ như Zevalin có kết quả rất hứa hẹn trong các thử nghiệm lâm sàng sớm.
Điều trị ung thư phổi cũng có những đột phá trong những năm gần đây. Sử dụng kháng thể Avastin làm tăng khả năng sống sót của ung thư phổi giai đoạn muộn so với chỉ điều trị bằng hoá chất thông thường. Ngoài các kháng thể, một nhóm các phân tử đặc biệt cũng đã được phát triển để chặn các đích đặc biệt trên tế bào ung thư chịu trách nhiệm về quá trình phát triển của ung thư. Các thành viên thuộc nhóm này bao gồm Iressa và Tarceva đã được sử dụng trên lâm sàng và đã có các ứng dụng trong điều trị ung thư phổi tiến triển. Dữ liệu về tác dụng phụ khá ít và dễ sử dụng bằng đường uống là những điểm đặc biệt hấp dẫn của nhóm thuốc này. Các thuốc này đã có sẵn cho lựa chọn điều trị những bệnh nhân không thể điều trị được bằng hoá chất hoặc có các khối u không đáp ứng với hoá chất.
Ngoài ra, các ung thư có bản chất tương đối kháng với điều trị bằng hoá chất và trước đây được cho là hầu như không thể điều trị được khi chúng đã ở dạng tiến triển thì nay đã thấy có đáp ứng với điều trị bằng các tác nhân nhắm đích mới hơn. Các ung thư của thận nay được điều trị bằng các tác nhân Sutent và Nexavar. Nexavar cũng báo trước một kỷ nguyên mới về khả năng sống sót của ung thư gan tiến triển.
Những tiến bộ này cho chúng ta căn cứ để lạc quan về những theo đuổi không ngừng nghỉ để điều trị ung thư tốt hơn.