TRANG CHỦ  |   VIETSINGCORP  |   BỆNH VIỆN NUH  |   BV TAN TOCK SENG  |   BÁC SĨ S'PORE  |   SỰ KIỆN  |   TUYỂN DỤNG  |   LIÊN HỆ
DỊCH VỤ Y TẾ SINGAPORE
CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ BN
ĐỘC ĐÁO SINGAPORE
LIÊN HỆ
VietSingCorp - Singapore
    
24 Peck Seah St, #02-04 
Nelhson Building, Singapore
Tel: (65) 67746733
Tư vấn:  (65) 98234289
E: 
info@vietsinginco.com.vn
     
VietSingCorp -  Hà Nội
    
197 Tây Sơn, Đống Đa, HN
Tel: 04.35640415
Tư vấn:  0913574041
E: 
info@vietsinginco.com.vn
       
VietSingCorp - Buôn Ma Thuột
  
18 - Đường Hồ Tùng Mậu
Tel: 050.385 7594


SỐ NGƯỜI TRUY CẬP
Đang online: 71
Đã xem: 124325

THÔNG TIN HỮU ÍCH

VietSing / KIẾN THỨC Y KHOA
» KIẾN THỨC Y KHOA

UNG THƯ TRẺ EM

Chẩn đoán và phát hiện sớm

I. Đại cương

Trẻ em là niềm vui, hạnh phúc của gia đình và là tương lai của xã hội.

  • Ung thư trẻ em chiếm tỉ lệ nhỏ, 1-2% các dạng ung thư, tần suất 100/1 triệu nhưng 10% tử vong ở trẻ em có liên hệ với căn bệnh này.
  • Bệnh ung thư (UT) ở trẻ em có tác động tâm lý, kinh tế xã hội sâu xa và mạnh mẽ đến đời sống của trẻ, đến gia đình và cộng đồng xã hội.
  • Ung bướu nhi là một chuyên ngành còn tương đối mới mẻ ở nước ta. Việc chẩn đoán và điều trị hiện nay còn khó khăn, chỉ có thể thực hiện được ở cơ sở chuyên khoa tại Hà nội, TP. Hồ chí Minh.
  • Khoảng 2 thập niên qua, việc chẩn đoán và điều trị UT trẻ em có nhiều tiến bộ đáng kể. Một số dạng UT trẻ em có thể chữa trị khỏi được. Một số khác, thời gian lui bệnh và sống thêm đã cải thiện rõ rệt. 

II. Đặc điểm

Trẻ em có một số đặc điểm tâm sinh lý khác người lớn:

Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ

  • Giai đoạn cơ thể hình thành cơ quan và hoàn chỉnh bộ máy.
  • 70-75% trọng lượng cơ thể là nước.
  • Hệ miễn dịch cơ thể còn kém (trẻ dưới 3-4 tuổi).
  • Nguy cơ bị suy dinh dưỡng và nhiễm trùng lớn.
  • Có thêm một số bệnh tật bẩm sinh kèm theo như: Hội chứng Down, Hội chứng Beckwith- Wiedemann, Hội chứng Li-Fraumeni… 

A. Ung thư trẻ em có một số điểm khác biệt UT ở người lớn:

  • Xuất phát từ những tế bào non, tăng sinh rất mạnh (Blastoma), diễn tiến nhanh.
  • UT hệ tạo huyết chiếm 50% các trường hợp, 75% là bệnh Bạch cầu lymphô cấp (BCLC),
  • Những bướu đặc thường gặp là Bướu não, Bướu nguyên bào võng mạc, Bướu nguyên bào thần kinh, Bướu tế bào mầm, Sarcôm mô mềm…
  • Một số dạng UT phổ biến ở người lớn, ít gặp ở trẻ con như UT cổ tử cung, UT phổi, UT da và ngược lại.
  • Một số dạng UT trẻ em có yếu tố di truyền gia đình, có liên hệ với sự đột biến gen như Bướu nguyên bào võng mạc.
  • Bệnh cảnh lâm sàng, diễn tiến bệnh, điều trị…có khác với UT người lớn.
III. Các dạng ung thư trẻ em thường gặp
Theo thống kê của Viện Ung Thư Quốc Gia Mỹ (1982-1986)
Vị trí
Tỉ lệ %
Tỉ lệ /1.000.000 trẻ
Bạch cầu cấp
30.5
39.7
Bướu não
20.1
27.0
Lymphôm
10.5
15.1
Bướu nguyên bào thận
 7.0
8.8
Sarcôm phần mềm
6.3
 8.2
Sarcôm xương
4.8
7.1
Bướu nguyên bào võng mạc
3.7
4.8
Bướu gan
1.7
2.0
Linh tinh
15.4
20.0
Tất cả các vị trí
100.0
132.7
 
 
Mười dạng ung thư trẻ em thường gặp tại TP. Hồ Chí Minh (1995-1997) 
 
Nam
Nữ
Chung 2 giới
 
ASR
%
ASR
%
ASR
%
Tổng số
93.3
100.0
83.3
100.0
88.4
100.0
Bạch cầu cấp
35.7
38.6
33.1
41.7
34.4
40.1
Bướu nảo
11.8
14.6
9.8
13.2
10.8
13.9
Lymphôm
13.7
14.6
7.4
8.3
10.6
11.6
Bướu nguyên bào võng mạc
9.1
8.2
4.1
4.2
6.7
6.3
Sarcôm phần mềm
4.4
5.1
7.1
6.9
5.7
6.0
Bướu tế bào mầm
3.7
3.2
6.5
7.6
5.1
5.3
Carcinôm
2.6
3.2
3.6
4.9
3.1
4.0
Bướu Wilms’
3.1
3.2
2.0
2.1
2.5
2.6
Bướu nguyên bào thần kinh
2.0
1.9
2.6
2.8
2.2
2.3
Bướu gan
1.5
1.3
0.8
0.7
1.1
1.0
Sarcôm xương
0.9
1.3
1.2
2.1
1.0
1.7
Loại khác
4.8
5.1
5.3
5.6
5.0
5.3

IV. Chẩn đoán

A. UT hệ tạo huyết:

Bệnh cảnh lâm sàng:

  • Sốt kéo dài, xanh xao, vết bầm trên da/ chảy máu mũi
  • Hạch cổ, gan lách to…Viêm loét miệng
  • Ho, khó thở, phù mặt cổ

Cận lâm sàng:

  • Huyết đồ, Tủy đồ
  • Kháng nguyên bề mặt (C.D.), Định dòng tế bào B, tế bào T
  • Hình ảnh: chụp XQ, Siêu âm, Scan ngực/ bụng chậu
  • Giải phẫu bệnh/ hạch, khối u.

B. Bướu đặc:

1. Bướu não

Lâm sàng:

  • Nhức đầu tăng dần, có kèm nôn ói vào buổi sáng,
  • Thay đổi tính tình, buồn ngủ, ngủ li bì hay co giật, yếu liệt chi…
  • Mắt mờ, đầu to,

Cận lâm sàng: Chụp CT scan não tủy, Chụp MRI.

2. Bướu ổ bụng

Lâm sàng:

  • Bụng to có bướu, trẻ chậm lớn, xanh xao.
  • Sốt nhẹ, ăn uống kém, tiêu chảy, tiểu khó…
  • Cao huyết áp, phát triển giới tính sớm.

Cận lâm sàng:

  • Hình ảnh: chụp XQuang, Siêu âm bụng chậu, Scan bụng chậu.
  • Dấu ấn ung thư: AFP, b HCG, VMA (nước tiểu 24 giờ).
  • Giải phẫu bệnh (FNA, sinh thiết mở…)

V. Phát hiện sớm

Bảy triệu chứng cảnh báo UNG THƯ trẻ em:

1- Sốt cao kéo dài và có vết bầm, chảy máu dưới da.

2- Trẻ xanh xao và mệt mỏi vô cớ.

3- Có một khối u, hạch hoặc chỗ sưng bất thường.

4- Đau một khớp xương kéo dài hoặc đi khập khểnh.

5- Nhức đầu tăng dần, có kèm nôn ói buổi sáng.

6- Mắt nhìn kém bất chợt hoặc có đốm trắng ở tròng đen mắt.

7- Trẻ sụt cân, bụng to và sờ thấy bướu.

(Theo Kline NE: Principles and Practice of Pediatric Oncology, 1997)

- Vai trò của thông tin giáo dục truyền thông.

- Ý thức và hiểu biết của cha mẹ, cô nuôi dạy trẻ, thầy cô giáo.

- Quan tâm và nhạy cảm của nhân viên y tế cơ sở, BS đa khoa…

VI. Kết luận

UT trẻ em chiếm tỉ lệ nhỏ (1-2%), nhưng có tác động mạnh mẽ và sâu xa đến tâm lý xã hội cho bản thân trẻ có bệnh, gia đình và cộng đồng.

  • Có 2/3 trường hợp trẻ mắc bệnh UT đến các cơ sở BV để chẩn đoán và điều trị với giai đoạn trễ, suy yếu nhiều. Việc điều trị khó khăn, ít kết quả, tốn kém.
  • Hiện nay, chỉ mới có Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có chuyên khoa Ung Bướu nhi. Vấn đề chú ý phát hiện bệnh sớm ở tuyến cơ sở là cần thiết.
  • Mốt số dạng UT trẻ em, nếu được phát hiện và chẩn đoán sớm, điều trị đúng mức… vẫn có cơ may trị khỏi, như Lymphôm Hodgkin, Bướu nguyên bào gan, Bướu Wilms’, Sarcôm cơ vân giai đoạn khu trú….
  • Hợp tác liên chuyên khoa, nhiều BV để chẩn đoán và điều trị UT trẻ em là mục tiêu cần thiết để mong cải thiện kết quả điều trị ngày một tốt hơn.

Tham khảo

  1. Manual of Clinical Oncology - 6th Edition. UICC Geneva 1994.
  2. Vincent T. DeVita, Samuel Hellman: Cancer: Principles and Practice of Oncology, 6th Edition, CD Room 2001.
  3. Parkin D. M., Kramarova E., Draper G.J. et al.: International Incidence of Childhood Cancer, Vol.II, IARC Scientific Publications No 144, Lyon, IARC, 1998.
  4. Kramanova E., Stiller C. A.: International Classification of Childhood Cancer. International Journal of Cancer, 68:759-765, n1996.
  5. Nguyễn Mạnh Quốc, Nguyễn Chấn Hùng, D.M. Parkin: Cancer Incidence in HCM City, Vietnam, 1995-96. International Journal of Cancer, 76:472-479, 1998.
  6. Donna L.Wong - Nursing Care of Infants and Children, 6th Edition, Mosby 1999.
  7. Philip A. Pizzo - Davis G. Poplack. Principles and Practice of Pediatric Oncology, 3th Edition, 1997.
  8. Parkin D. M.: Cancer Occurrence in developing countries. IARC Scientific Publications, No. 75, Lyon, 1986.
  9. K. S. Chia, A. Seow: Cancer Incidence in Singapore 1993-1997, Singapore Cancer Registry.
  10. Một số nhận định về tình hình Ung thư trẻ em tại TP Hồ chí Minh, Bs Trần Chánh Khương và CS. Báo cáo KHKT - Hội thảo Phòng chống Ung thư TP HCM năm 2002.
  11. Tập bài giảng: Hóa trị Ung thư trẻ em, Hội thảo Phòng chống Ung thư TP. HCM năm 2003.
                                   Trích dẫn bài viết của Bác sĩ. Trần Chánh Khương - BV. Ung Bướu TP. Hồ chí Minh

 

 

 

TỔNG KẾT CÁC CA THỰC TẾ ĐIỀU TRỊ TẠI SINGAPORE

 

1/ Nguyễn Đức D, 12 tuổi

 

Cháu từ một tỉnh phía Bắc Việt Nam, phát hiện ung thư Hạch năm 2001. Cháu bị dạng Hogkin, giai đoạn 4, di căn tuỷ xương.

 

Gia đình đã liên hệ sang Singapore và tìm đến sự giúp đỡ của vợ chồng giáo sư Thắng, lúc đó bác sĩ Thắng còn làm việc tại bệnh viện Singapore General Hospital.

 

Khoảng hơn nửa năm điều trị hoá chất kết hợp với xạ trị, kết quả xét nghiệm của bệnh nhân có thể nói tiến triển ngày một tốt lên, khi bệnh nhân về Việt Nam, hạch đã biến gần hết. Các bác sĩ cho biết có thể những hạch còn lại là các sẹo của hạch đã bị teo. Bố mẹ cháu rất vui, nhưng vẫn còn nhiều lo lắng. Bác sĩ Tan nói mẹ cháu cứ tạm thời yên tâm và nên cho cháu biết.

 

Sau thời kỳ điều trị ở Singapore, ban đầu 3 tháng cháu quay lai kiểm tra 1 lần, sau đó 6 tháng 1 lần, rồi cách xa dần 1 năm 1 lần. Tháng 7 vừa qua (năm 2008) bố mẹ cháu thông báo cho cô A’nh là cháu đã thi đại học. Mmỗi lần về thăm Việt Nam được thấy cháu khoẻ mạnh, học hành bình thường, và bây giờ đã trai tráng một thanh niên thì vui biết nhường nào. Khi cháu sang chữa bệnh, bệnh viện thường tưởng cô là mẹ cháu, vì mẹ cháu không biết tiếng Anh, mà cô lại có em bé, nên nhiều khi cô phải đi giúp cháu, còn mẹ cháu ở nhà trong con cho cô. Thời đó không có mấy người Việt NamSingapore. Bệnh viện không có nhân viên người Việt. “Giờ đây cháu đã khỏi bệnh được 7năm, cao to khoẻ mạnh, tóc dày rễ tre và hai gia đình chúng tôirất gần gũi” Cô A’nh nói.

 

Sau đó có rất nhiều cháu Việt Nam qua chữa bệnh, hàng năm có đến cả trăm cháu. Số cháu Việt Nam sang điều trị đông nhất là ở Bệnh Viện NUH, lúc nào cũng có khoảng 10 cháu hoặc hơn, tỏ lệ đông nhất vẫn là bị bệnh ung thư máu, hạch. Bệnh viện có được các giáo sư, bác sĩ giỏi, tận tình với bệnh nhân và chuyên sâu cho các bệnh này.

 

Gần đây có 2 kỷ niệm mà cô muốn nhắc tới nhất để chia xẻ kinh nghiệm với các bậc cha mẹ các cháu bé.

 

2/ Cháu Nguyễn T P, 17 tuổi.

 

Cháu từ một tỉnh Miền Bắc. Cháu bị sốt suốt 3 tháng trời. Trước đó khoảng 6 tháng cháu có hiện tượng sốt khoảng 1 và tuần 1 lần, gia đình tưởng cháu bị cảm cúm, nhưng mức độ sốt cứ tăng dần. Cháu đã được dùng kháng sinh liều cao trong suốt 3 tháng và bệnh của cháu không biết cụ thể là bệnh gì?

 

Cô của cháu là bạn của em cô A’nh và sống ở nước ngoài. Sau khi chau bị sốt miên man khoảng 1 tháng thì cô cháu có gọi điện cho cô A’nh nhờ tư vấn. Cô A’nh cũng có khuyên nếu gia đình có thể sắp xếp chuyến đi và trước mắt sang chẩn đoán đã. Nhưng cô cháu chưa về được mà bố mẹ cháu cũng còn bối rối e sợ không dám đi. Bẵng đi khoảng 2 tháng, gia đình liên hệ lại Cô A’nh và mong muốn đi gấp.

 

VietSingCorp hỗ trợ sắp xếp để lo mọi thủ tục đi cho cháu, cháu vẫn sốt, sức khoẻ của cháu yếu, mình mẩy cháu đau đớn. Khi noi chuyện cân nhắc chuyến đi thì gia đình nói còn nước còn tát và cứ đi đã.

 

Cháu sang đến nơi, kết quả chụp phổi của cháu cho thấy cháu đã bị trắng một số phần rất rộng. Tiếp tục tầm soát và làm các xét nghiệm chọc tuỷ, phân tích máu, chụp CT vv… Kết quả tổng hợp lại khăng định cháu bị ung thư Hạch. Nhưng bệnh ung thư của cháu không đáng nguy hiểm như sự phá huỷ của Gan, Thận, Tuỵ. Tất cả đều đã bị tổn thương. Phổi của cháu càng ngày càng trắng thêm và ngay khi cháu sang bác sĩ của cháu, Dr Allen đã nghi ngờ cháu bị một loại Nấm nguy hiểm tấn công phổi. Vẫn cho thuốc điều trị trước, nhưng cần lấy mẫu và gửi sang phòng thí nghiệm để nuôi mới biết loại Nấm đó là loại nấm nào, mới có thuốc đặc trị cho nó.

 

Cháu phải chuyến vào nằm tại Hồi Sức vì sự suy xụp toàn diện và các loại bệnh dù đã tìm được nhưng cơ hội điều trị chỉ có khoảng 10 đến 20%. Bác sĩ và mọi người xung quanh đều cố gắng cầm cự. Gia đình không thể quyết định đưa cháu về trong tinh trạng đó và hy vọng còn nước còn tát, mặc dù biết rằng hy vọng gần như số “O”

 

Đến ngày thứ 11 cháu đã xỉu dần và cũng là lúc gia đình phải quyết để cháu mất ở Singapore. Cháu không phải là cháu ruột của chúng tôi, nhưng hình ảnh cháu gái 17 tuổi, cao lớn, trắng và xinh với ước mơ vào đại học sư phạm làm chúng tôi không thể nào yên lòng trong nhiều tháng sau đó. Người thân của cháu tự trách móc mình không đưa cháu đi sớm để chẩn đoán ra bệnh. Bố mẹ cháu trách minh không dư giả tài chính để quyết định đi sớm hơn và vì họ lầm tưởng rằng cứ đi Singapore là chuẩn bị tiền tỷ.

 

Khi cháu mất, người thân không thông thổ các thủ tục lo liệu cho cháu. Chúng tôi, bạn bè Singapore của chúng tôi và các sinh viên Việt Nam cùng gia đình lo liệu mọi thủ tục gấp rút cho cháu và cho gia đình về nước. Một em sinh viên nam đã đi mua hoa trắng, gương lược, đồ trăng điểm cho cháu. Tất cả mọi thứ phải lo liệu trong 1 buổi chiều, sáng hôm sau cháu đi theo chuyến bay của hãng hàng không Singapore cất cánh lúc 10h về Việt Nam

 

Chúng tôi ước gì có thể gặp cháu sớm hơn. Ước gì có thể công bố một thông điệp cho gia đình cháu sớm là chỉ cần chuẩn bị khoảng 10 triệu tới 30 triệu là có thể đủ để chẩn bệnh ung thư cho cháu. “11 ngày và đêm” cùng chuỗi ngày bị bệnh của cháu có thể viết thành quyển sách có giá trị

 

3/ Cháu D H L, 4 tuổi.

 

Cháu từ Hà Nội, cháu bị nghi là ung thư gan và được VietSingCorp sắp xếp sang Singapore vào cuối năm 2007. Khi đi bụng cháu to như cái trống, da xanh lướt, sức khoẻ yếu, tí nữa thì hải quan không cho cháu bay. May có bác của cháu là bác sĩ và đi cùng, đảm bảo có thể cấp cứu, lúc đó hàng không mới để cháu đi.

 

Cháu sang chiều hôm trước, sang sớm hôm sau cháu bị chảy máu mũi đến kinh hãi. Lúc đó bác và mẹ cháu đi siêu thị sắm sửa đồ đạc cho cháu. Bố cháu gọi tôi trong tình trạng lo sợ khủng khiếp. Ông xã tôi là bác sĩ, chúng tôi chỉ cho bố cháu cách tạm thời sơ cứu cho cháu cháu, sau đó tôi chỉ kịp xỏ dép, gọi điện cho bác sĩ Allen (hôm đó là chủ Nhật) và lái xe đến nơi cháu ở, cũng may rất gần bệnh viện NUH. Lúc đó bác cháu và mẹ cháu vừa về. Tất cả hết hồn, nhảy vào hết xe và phóng vào bệnh viện.

 

Y tá bác sĩ khám và cấp cứu xong khoảng vài giờ. Cháu nhập viện luôn và bắt đầu các bác sĩ cho làm các thủ tục xét nghiệm.

 

Vài ngày sau tổng hợp được hết kết quả, bác sĩ Allen cho biết cháu bị ung thư hệ máu - Hạch, dạng ALL.

 

Phác đồ điều trị được đưa ra, bác sĩ cho biết các số liệu báo cáo của các phác đồ điều trị bệnh của cháu đã được tổng hợp của cả 2 nước Singapore và Malaysia - Những nơi áp dụng thử nghiệm phác đồ mới bắt đăù từ năm 2003 cho thấy cháu có khả năng thành công 85 đến 90% nếu đáp ứng thuốc. Bố mẹ cháu bàng hoàng, ngạc nhiên nhưng cũng vẫn lo âu lắm.

 

Gia đình quyết định để cháu ở lại Singapore điều trị, bác cháu đã bay về Việt Nam và chúng tôi thu xếp cho gia đình cháu về ở cùng với 2 gia đình có trẻ em điều trị bệnh ung thư máu khác và cũng điều trị ở NUH. Xa nhà nhưng có đồng hương đùm bọc, các gia đình có sức lực vượt qua hơn. Ngoài ra vẫn có thể nói tiếng Việt, sinh hoạt như ở quê nhà.

 

Sau khoảng 1 tuần điều trị, bụng của cháu nhỏ dần đi và sức khoẻ cũng ổn định lại. Trong suốt quá trình điều trị, ngoài các ngày nhập viện truyền hoá chất (một số chu kỳ điều trị nội trú, một số chu kỳ điều trị ngoại trú), có vài lần cháu phải nhập viện do bị nôn nhiều hoặc sốt. Nói chung quá trình điều trị của cháu rất thuận lợi, không nhiều biến chứng

 

Tháng 7/2008. cháu L đã điều trị xong và về Việt Nam.

 

Đầu tháng 9/2008, cháu sang khám lại, tóc đã mọc tốt um, và trong hồng hào khác hẳn ngày cháu vừa ra viện về Việt Nam. Bố cháu cho cháu đến thăm gia đình chúng tôi. Cháu chạy nhảy lăng xăng và không một phút ngồi yên, còn chúng tôi ngồi trò chuyện, uống bia, ôn lại các lần cháu bị cấp cứu, nhập viện. Bố cháu tâm sự “khi đi em đã nghĩ rằng sẽ phải mang cháu về theo “kiểu khác’ và đã chuẩn bị hết, thậm trí đã xin nghỉ hẳn việc và chấp nhận bất kể điều gì có thể xảy ra”

 

Thật hạnh phúc cho cháu, gia đình cháu với kết quả hiện tại.

Cháu vẫn cần cẩn trọng theo dõi đều đặn, 3 tháng, rồi 6 tháng, dần dần 1 năm nếu mọi việc vẫn ổn cả.

 

Rút kinh nghiệm

 

Trong 3 trường hợp trên thì có 1 cháu không phát hiện ra bệnh, 2 cháu phát hiện bệnh ở giai đoạn 4. Khi sang Singapore, bệnh ở giai đoạn quá nặng. May mắn cho 2 cháu là đã có được cơ hội điều trị tốt.

 

Chi phí điều trị của cháu Nguyễn Đ D khoảng S$35.000, cháu Nguyễn T P khoảng S$50.000, cháu Đ H L khoảng S$70.000. Nếu các cháu được phát hiện sớm và đi điều trị ngay từ đầu thì chi phí có thể thấp hơn rất nhiều.

 

Nếu bệnh phát hiện ở giai đoạn càng sớm - chính xác thì không chỉ làm giảm gánh nặng tài chính cho gia đình các cháu mà sẽ mang lại ý nghĩa lớn lao là cơ hội bình phục và chất lượng cuộc sống của cả các cháu, gia đình các cháu sẽ tốt hơn rất nhiều.

 

Trích dẫn kinh nghiêm hỗ trợ bệnh nhân của cô. Nguyễn Ngọc Ánh

Ngày 9 tháng 9 năm 2010

Bản quyền thuộc về VietSingCorp 2006.Thiết kế bởi VNT Tech..JSC